LAO NIỆU SINH DỤC
Vi khuẩn lao xâm nhập một hoặc nhiều cơ quan hệ niệu sinh dục và gây nhiễm trùng mãn tính với tổn thương mô hạt có lao.
Lao bộ niệu là một bệnh của người trẻ (60% bệnh nhân ở độ tuổi từ 20-40 tuổi) và nam nhiều hơn nữ.
NGUYÊN NHÂN
Vi khuẩn lao M. Tuberculosis từ phổi đến hệ niệu sinh dục bằng đường máu gây tổn thương nguyên phát lao. Các cơ quan khác của hệ niệu sinh dục bị nhiễm hoặc do đường ngược lên (Tuyến tiền liệt đến bàng quang) hoặc do đường đi xuống (thận tới bàng quang, tuyến tiền liệt tới Mào tinh). Tinh hoàn có thể bị tổn thương do bị bành trướng trực tiếp từ mào tinh.
Hình 1: lao hệ niệu sinh dục (trích nguồn từ Smith’ General Urology 17th edition)
SINH BỆNH HỌC
THẬN & NIỆU QUẢN
Hình 2: Các dạng tổn thương thận niệu quản thường gặp trên UIV
(A) hình ảnh thận niệu quản bình thường.
Hình 3: hình ảnh UIV và CT scan lao hệ niệu sinh dục
(trích nguồn từ Smith’ General Urology 17th edition)
Hình T trên: UIV đài thận trên P bị ngậm nhấmvà vôi hoá, niệu quản dãn
Hình P trên: UIV loét và dãn đài thận dưới T.
Hình T dưới: CT có cản quang thận T vôi hoá, chủ mô viêm phù nề.
Hình P dưới: CT không cản quangcác đài thậnT dãn, mất chủ mô, vôi hoá niêm mạc
Khi vi khuẩn lao đến vùng vỏ thận có thể bị tiêu diệt sức đề kháng của chủ mô, chứng minh bằng sẹo của tổn thương lao thấy được trên thận lúc mổ tử thi những bệnh nhân chết không phải vì bệnh lao. Nếu chủng lao đủ sức độc hại chúng có thể phát triển trong thận và bệnh cảnh nhiễm trùng lao sẽ xuất hiện.
Lao thận tiến triển chậm, có thể 15 – 20 năm để tàn phá thận nơi bệnh nhân có sức đề kháng tốt. Theo nguyên tắc, không có những cơn đau Thận, có ít hoặc không có những hỗn loạn lâm sàng đặc hiệu cho tới khi tổn thương Lao ăn lan đến Đài Thận hay bồn Thận, lúc đó mủ và vi khuẩn được tống xuất vào nước tiểu, chỉ ở giai đoạn sau này các triệu chứng lâm sàng mới biểu lộ. Rồi thì nhiễm trùng tiến triển tới niêm mạc bể thận và niệu quản đặc biệt ở đoạn trên và đoạn gần Bàng quang, do vậy thường đưa đến chít hẹp với bế tắc và trướng nở phía trên.
Khi bệnh tiến triển, tổn thương bã đậu lan tỏa, bành trướng cho tới khi toàn thể thận được thay thế bằng chất giống như phomat. Calcium có thể lắng đọng trong các mô tiến triển xơ hoá. Niệu quản trở nên xơ hoá, ngắn lại và cứng, sự thay đổi này có thể làm lỗ Niệu quản hở rộng.
Hình 4: hẹp niệu quả P do lao
BỌNG ĐÁI
Hình 5: Hình ảnh lao bàng quang
Khi Bàng quang bị nhiễm, tính kích thích Bàng quang xuất hiện như một biểu lộ lâm sàng sớm nhất. Tổn thương dạng củ được hình thành sau đó thường trong những vùng gần lỗ niệu quản, cuối cùng kết chùm với nhau và hoá loét, những ổ loét này có thể chảy máu. Trong những tổn thương nặng, Bọng đái trở nên xơ hoá và co nhỏ gây tiểu nhiều lần, trào ngược dòng niệu quản hay hẹp có thể đưa đến chướng nước phía trên. Nếu tổn thương thận đối diện xuất hiện sau đó thì có lẽ là do nhiễm riêng biệt từ đường máu.
TIỀN LIỆT TUYẾN & TÚI TINH
Hình 6: Hình ảnh lao tiền liệt tuyến
(trích nguồn từ Smith’ General Urology 17th edition)
Nước tiểu bị nhiễm trùng đi qua niệu đạo – tiền liệt tuyến sẽ đưa đến sự xâm nhập vào tiền liệt tuyến và một hay cả hai túi tinh, không có đau tại chỗ.
Đôi khi tổn thương nguyên phát từ đường máu đến Hệ niệu nằm ở Tiền Liệt Tuyến. Nhiễm trùng Tiền Liệt Tuyến có thể đi ngược lên Bàng quang và xuống dưới Mào tinh.
MÀO TINH &TINH HOÀN
Lao từ Tiền Liệt Tuyến có thể bành trướng dọc theo ống dẫn tinh hay xuyên qua hệ bạch dịch quanh ống dẫn tinh và ảnh hưởng đến Mào tinh. Vì đây là một tiến triển chậm nên thường không có đau tại chỗ. Nếu nhiễm trùng Mào tinh lan tỏa và áp – xe hoá nó có thể bành trướng tới Tinh hoàn hoặc nó có thể vỡ xuyên qua da bìu tạo ra một đường dò mãn tính.
BỆNH HỌC
THẬN & NIỆU QUẢN
Đại thể mặt ngoài của Thận bị lao tiến triển vừa phải thường bình thường, mặc dầu nó thường được bao quanh bởi vùng viêm quanh Thận rõ rệt, hoặc có thể thấy những tổn thương xốp, vàng khu tru. Mặt cắt, những vùng bị tổn thương thường chúa đầy chất bã đậu với hủy hoại chủ mô lan tỏa rõ rệt, những vùng mô bình thường khác có thể thấy những áp-xe nhỏ. Thành Bể Thận. Đài Thận, Niệu quản có thể dày lên và các ổ loét thường thấy ở vùng Đài Thận mà ổ áp-xe vỡ vào Bể Thận. Hẹp Niệu quản có thể hoàn toàn gây ra hiện tượng ‘tự cắt Thận ‘. Thận này bị xơ hoá và không còn chức năng. Trong trường hợp này nước tiểu trong Bàng quang có thể bình thường và bệnh nhân không có triệu chứng. Vi thể, tổn thương Lao xuất hiện gần Cầu Thận. Tổn thương này là do sự kết dính của các mô bào có nhân dạng nang và có những thể tế bào trong có thể kết hợp với những tế bào lân cận để tạo thành một khối nhỏ gọi là hệ dưới dạng thựơng bì (Epitheloid reticulum).
Ở ngoại vi hệ này là những tế bào lớn với nhiều nhân (đại bào). Phản ứng bệnh học này, có thể nhìn thấy đại thể, là tổn thương căn bản của Lao. Nó có thể lành bằng hoá sợi hoặc kết hợp với nhau, đi đến bề mặt và loét tạo thành tổn thương dạng hang – loét (Ulcero-cavernous). Củ Lao (Tubercle) có thể trải qua thoái hoá trung tâm và thành bã đậu tạo ra một hang Lao áp-xe hoá có thể đi đến hệ thống thu thập và vỡ vào đài bể Thận. Trong tiến trình này, có sự phá huỷ dần dần chủ mô, tuỳ theo độc tính của vi khuẩn và sức đề kháng của người bệnh, Lao là sự phối hợp giữa bã đậu hoá và hang hoá và lành bằng sự xơ hoá và sẹo. Những thay đổi tương tự có thể thấy trong thành bể Thận và Niệu quản.
Cả hai Thận và Niệu quản thường bị hoá vôi về vi thể hay đại thể, tổn thương này gợi ý nhiều đến Lao nhưng cũng có thể gặp nhiều trong nhiễm Bilharzose. Sạn Thận thứ phát có thể gặp trong 10% các trường hợp.
Trong các tổn thương trầm trọng nhất của Lao Thận, chủ mô có thể bị thay thế hoàn toàn bởi mô sợi hay chất bã đậu, áp-xe quanh thận cũng có thể gặp nhưng rất hiếm.
BỌNG ĐÁI
Trong giai đoạn sớm, niêm mạc có thể bị viêm nhiễm nhưng đây không phải là thay đổi đặc hiệu của Lao. Ở giai đoạn này Bàng quang tương đối đề kháng với sự xâm nhập của vi khuẩn. Sau đó những cù lao hình thành, có thể thấy qua soi Bàng quang, những nốt nổi gò lên màu trắng hay vàng được bao quanh bởi một vòng sung huyết mạnh. Khi Bàng quang bị co nhỏ, trào ngược dòng có thể xảy ra. Vi thể, những nốt này điển hình của tổn thương Lao. Những nốt này có thể vỡ ra tạo thành những ổ loét sâu, bờ không đều. Ở giai đoạn này, Bàng quang rất bị kích thích, khi lành mô xơ phát triển xâm lấn tất cả thành Bàng quang ….
TIỀN LIỆT TUYẾN & TÚI TINH
Đại thể, mặt ngoài của những cơ quan này có thể cho thấy những nốt và vùng thâm nhiễm cứng do mô sợi. Một số hiếm các trường hợp, sự lành kết thúc bằng sự calci hoá, những vùng bị calci hoá rộng lớn trong Tiền Liệt Tuyến gợi ý đến tổn thương Lao.
THỪNG TINH – MÀO TINH HOÀN VÀ TINH HOÀN
Ống dẫn tinh thường bị với những tổn thương đại thể hình thoi là những củ Lao trong các trường hợp mãn tính. Mào tinh lớn ra và khá cứng, thường phân biệt với Tinh hoàn và đôi khi có thể dính vào dây. Vi thể có những thay đổi điển hình của Lao, các ống tạo tinh có thể bị thoái hoá đáng kể. Tinh hoàn thường không bị liên hệ ngoại trừ bị bành trướng trực tiếp từ một ổ áp-xe ở mào tinh.
HỆ SINH DỤC NỮ
Nhiễm trùng thường do đường máu, hiếm khi là do hậu quả của quan hệ tình dục với người nam bị bệnh. Xuất độ Lao niệu và sinh dục phối hợp ở phái nữ từ 1-10%, vòi trứng có thể bị viêm nhiễm, những biểu lộ khác có thể là viêm nội mạc, những mảng khu trú của các phần phụ (thường hai bên) và Lao cổ tử cung, nhưng những tổn thương mô hạt của âm đạo và âm hộ thì hiếm.
KHÁM LÂM SÀNG
Lao niệu sinh dục phải được nghĩ đến khi có sự hiện diện của một trong những tình trạng sau:
– Viêm bàng quang mãn tính không đáp ứng với điều trị thích hợp.
-Tìm thấy mủ mà không có vi khuẩn trong nhuộm xanh Methylene hay cấm nước tiểu
-Tiểu ra máu đại thể hay vi thể
-Mào tinh lớn, không đau hay ống dẫn tinh cứng
-Đường dò mãn tính ở bìu
-Tiền liệt tuyến có những vùng hay những nhân cứng và một hay hai Túi tinh dày lên (đặc biệt ở thanh niên trẻ)
– Bệnh sử cho thấy tiền có căn lao hay đang lao một bộ phận khác của cơ thể.
– Chẩn đoán dựa trên sự hiện diện của vi khuẩn Lao trong nước tiểu khi cấy. Độ lan toả của Lao được xác định của lao bằng: Sờ thấy những vùng, nhân cứng ở mào tinh, Ống dẫn tinh, Tiền Liệt Tuyến, Túi tinh. Tổn thương đặc hiệu của thành Niệu quản, thấy trên UIV. Tổn thương đặc hiệu của Bàng quang thông qua nội soi. Mức độ tổn thương được xác định bằng sự mất chức năng. Sự hiện diện của vi khuẩn trong một hoặc hai Thận.
TRIỆU CHỨNG
Không có các triệu chứng kinh điển của Lao Thận hầu hết các triệu chứng của bệnh dù trong những trường hợp tiến triển nhất là trong các triệu chứng của Bàng quang (Viêm Bàng quang). Khó chịu, toàn thân mơ hồ, dễ mệt, sốt nhẹ dai dẳng, đổ mồ hôi đêm. Khi không có những biểu lộ Bàng quang thì lấy nước tiểu khảo sát kỹ lưỡng có thể giúp chìa khóa. Lao tiến triển ở một cơ quan khác có thể thấy trong khoảng 50% các trường hợp những bệnh nhân bị Lao Niệu sinh dục.
Thận và niệu quản
Vì sự tiến triển chậm của bệnh, Thận bị tổn thương thường hoàn toàn không có triệu chứng. Đôi khi có thể thấy đau tức vùng hông. Sự điều trị chuyển của cục má, sỏi thứ phát hay những mảng mô (Débris) có thể gây ra cơn đau bão Thận. Hiếm khi có thể thấy một mảng không đau ở bụng.
Bọng đái
Triệu chứng sớm nhất của Lao Thận có thể do từ Bàng quang bị tổn thương thứ phát: Đái nóng, tiểu nhiều lần, tiểu đêm đôi khi có thể thấy tiểu ra máu nguồn gốc từ Thận hoặc Bàng quang. Đặc biệt ở giai đoạn tiến triển của bệnh, tính kích thích Bàng quang có thể đến cực điểm. Nếu có loét có thể có đau vùng trên xương mu.
Hệ sinh dục
Lao Tiền Liệt Tuyến hay Túi tinh thường không có triệu chứng, thường chìa khoá đầu tiên chứng minh sự hiện diện của lao các cơ quan này là lao Mào tinh. Lao Mào tinh thường hiện diện như một khối sưng không đau hay đau ít, áp xe có thể vỡ tự nhiên từ đây ra da bìu. Một đường dò mãn tính ở bìu phải được xem như là Lao cho tới khi chứng minh được nguyên nhân khác. Trong một số hiếm các trường hợp, khởi đầu có thể khá cấp tính và giống như là một viêm Mào tinh không đặc hiệu.
DẤU HIỆU
Lao ngoài hệ niệu có thể thấy như: phổi, xương, hạch, ruột ….
Thận: Thường không lớn hay không đau.
Cơ quan sinh dục ngoài
Mào tinh dầy cứng, không đau hay đau ít. Ong dẫn tinh dầy, Beaded. Đường dò mãn tính xuyên ra da bìu luôn luôn là dấu hiệu có giá trị của Lao Mào tinh, Khi bệnh tiến triển nhiều hơn, có thể không còn phân biệt được với Tinh hoàn khi khá, điều này có nghĩa là Tinh hoàn đã bị xâm lấn trực tiếp từ áp xe Mào tinh. Đôi khi có thể thấy nang nước tinh mạc trong Mào tinh.
Tiền liệt tuyến và túi tinh Những cơ quan này có thể bình thường khi khám thông thường, Lao Tiền Liệt tuyến cho thấy có những vùng hay những nhân cứng. Túi tinh bị bệnh thường cứng, lớn và có dịch. Nếu có lao Mào tinh, Túi tinh cùng bên cũng có những thay đổi.
CẬN LÂM SÀNG
Sinh hoá vi khuẩn
Phân tích nước tiểu đặc biệt cung cấp chìa khoá quan trọng nhất cho sự chẩn đoán.
-Tiểu mủ dai dẳng mà không có vi khuẩn tìm thấy khi nuôi cấy hay khi nhuộm xanh méthylene phải được xem như Lao bộ Niệu cho tới khi nguyên nhân khác được chứng minh. Vi khuẩn kháng acid cồn có thể tìm thấy khi khảo sát cặn cô đặc của nước tiểu trong 24 giờ trong 60% trường hợp. Tuy vậy điều này cần có sự dương tính của nuôi cấy.
– Vào khoảng 15 – 20% bệnh nhân Lao niệu bị nhiễm trùng thứ phát do vi trùng sinh mủ. Nếu không có đáp ứng lâm sàng với điều trị thích hợp và tiểu mủ vẫn tồn tại, thì Lao niệu phải được loại ra bằng vi khuẩn học và X-quang.
Cấy tìm vi khuẩn
– Cấy tìm vi khuẩn Lao trong nước tiểu đầu tiên lúc sáng dương tính với tỉ lệ rất cao trong nhiễm trùng do Lao. Khi nghi nhiều đến Lao, cần cấy lại nếu kết quả lúc trước âm tính.
– Máu ngoại vi có thể bình thường hay cho thấy thiếu máu trong các thể tiến triển. Tốc độ lắng máu thường tăng.
– Vi khuẩn Lao có thể thấy trong các chất dịch tiết từ Tiền Liệt Tuyến bị nhiễm bệnh. Chức năng Thận bình thường trừ khi cả hai bên bị tổn thương. Khi một Thận bị tổn thương từ từ, Thận kia sẽ hoạt động bù trừ và to ra, Thận này cũng có thể bị nhiễm khuẩn Lao hay bị chướng nước do xơ hoá thành Bọng đái (hẹp Niệu quản sát bọng đái) hay trào ngược dòng Bọng đái – Niệu quản.
* Nếu Lao nghi ngờ, cần làm test Turbeculine. nếu test dương ở người lớn, thì nghĩ nhiều đến chẩn đoán Lao. Nhưng test âm ở người khoẻ thì loại trừ chẩn đoán Lao.
X quang
– X quang phổi: cho thấy Lao giúp nghĩ đến Lao Hệ Niệu trên những bệnh nhân có triệu chứng của Lao Niệu sinh dục.
– X quang bụng: có thể cho thấy bóng thận lớn một bên hay hình ảnh xoá mờ bóng Thận, bóng cơ thăn khi có áp xe quanh Thận, hình ảnh vôi hoá vùng bóng Thận có thể do Lao gây ra. Sỏi Thận gặp trong 10% các trường hợp. Vôi hoá Niệu quản có thể thấy nhưng rất hiếm. Hình ảnh sỏi nhỏ Tiền Liệt Tuyến như hạt nho khô vùng xương mu thường không phải là Lao, nhưng những thể hoá vôi lớn hơn có thể là Lao.
Hình 7: tổn thương vôi hoá niệu quản chậu P và tiền liệt tuyến
(trích nguồn từ Smith’ General Urology 17th edition)
-UIV: có thể giúp chẩn đoán nếu tổn thương Lao đã tiến triển khá, những thay đổi điển hình gồm:
- Hình ảnh gặm nhấm (Moth – Eaten) của đài Thận bị loét.
- Bế tắc một hay nhiều Đài Thận.
- Dãn mỡ các Đài Thận do hẹp Niệu quản bị xơ hoá.
- Hang áp xe thông thương với Đài Thận.
- Hẹp Niệu quản một hoặc nhiều chỗ với dãn mỡ thứ phát, rút ngắn và vì vậy dãn cứng của Niệu quản.
- Thận mất chức năng do bế tắc Niệu quản hay do phá huỷ chủ mô Thận.
- Nếu UIV thấy rõ Lao thì không cần thiết phải chụp film Niệu quản – Bể Thận ngược dòng vì theo lý thuyết có thể có sự lây truyền bằng đường máu hay đường bạch huyết do sự gia tăng áp lực trong bể Thận. Tuy vậy, UPR vẫn cần thiết, khi cần phải xác định sự bình thường của bên bị nghi là Lao, đặc biệt nếu nước tiểu từ bên đó không có vi khuẩn Lao và không có mủ.
Hình 8: biến dạng bàng quang do lao
(A) Bàng quang teo nhỏ (B) bàng quang nhiều túi ngách
(trích nguồn từ Smith’ General Urology 17th edition)
Soi bọng đái
-Được chỉ định khi có sự hiện diện của vi khuẩn trong nước tiểu và UIV cho thấy những sang thương điển hình của Lao, thủ thuật này giúp xác định độ lan rộng của bệnh. Soi Bàng quang có thể phát hiện những tổn thương củ hay loét điển hình của lao và khi cần thiết có thể làm sinh thiết. Bọng đái bị co thắt trầm trọng cũng có thể được ghi nhận.
-Chụp bàng quang có cản quang có thể phát hiện ngược dòng.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Viêm bọng đái mãn tính không đặc hiệu hay viêm Thận bồn Thận có thể giống lao hoàn toàn vì 15 – 20% những trường hợp lao bị bội nhiễm do vi khuẩn sinh mủ. Nếu nhiễm trùng không đặc hiệu không đáp ứng với điều trị thích hợp thì cần phải tìm đến lao. Soi bàng quang có thể giúp phát hiện những củ và loét thành Bọng đái do Lao. UIV thường quyết định.
Viêm mào tinh cấp hay mãn không đặc hiệu có thể lẫn lộn với Lao vì lúc khởi bệnh của Lao đôi khi cũng rất đau. Ít khi có thay đổi của Túi tinh trong viêm Mào tinh không đặc hiệu, nhưng trong Lao Mào tinh thường có thay đổi của Túi tinh.
Viêm bọng đái vô khuẩn thường có khởi đầu cấp tính và thường có dịch nhầy nơi miệng Niệu đạo trước đó. Tiểu mủ vô khuẩn nhưng không có khuẩn lao. Soi bọng đái có thể phát hiện loét nhưng những tổn thương này cấp tính và nóng. Mặc dầu UIV cho thấy trương nở nhẹ niệu quản hoặc Thận chướng nước nhưng không thấy tổn thương loét đài Thận của Lao Thận.
Viêm mô kẽ Bàng quang có đặc điểm tiểu nhiều lần, tiểu đêm, và đau vùng trên xương mu khi Bàng quang đầy, nước tiểu thường không có mủ và không có vi khuẩn Lao.
Nhiều sỏi nhỏ trong Thận hay Thận hoá vôi thường trên X quang có thể gợi ý hình ảnh calci hoá thấy trong Lao Thận. Trong Lao Thận, Calcium thấy trong chủ mô mặc dầu đôi khi có thể thấy sỏi thứ phát.
Viêm nhú Thận hoại tử có thể xảy ra cho tất cả các Đài Thận của một hoặc hai Thận hiếm khi chỉ một Đài Thận đơn độc bị, cho thấy những tổn thương Đài Thận gồm cả hoá vôi giống như Lao. Nhưng khảo sát vi khuẩn học kỹ lưỡng vẫn không tìm thấy vi khuẩn Lao.
Bệnh xốp tuỷ Thận có thể cho thấy những hình ảnh hoá vôi ở xa Đài Thận. Tuy nhiên, các đài Thận nhọn và không có những tổn thương đặc thù của Lao.
BIẾN CHỨNG
LAO THẬN
-Áp xe quanh Thận tạo một khối lớn vùng lưng, Rx hay Sp không thấy bóng cơ thăn: siêu âm và CT-Scan có thể giúp chẩn đoán.
-Sạn Thận có thể thấy nếu có nhiễm trùng không đặc hiệu thứ phát.
-Suy Thận mãn nếu cả hai thận bị tổn thương.
LAO NIỆU QUẢN
Sẹo với chít hẹp là một trong các tổn thương đặc hiệu của Lao và thường gặp nhất ở đoạn sát Bọng đái của Niệu quản. Do vậy, sẽ gây Thận chướng nước, bế tắc hoàn toàn có thể gây mất chức năng của Thận cùng bên.
LAO BỌNG ĐÁI
Khi bị tổn thương nặng, thành Bọng đái bị hoá xơ và co thắt lại, hẹp hay trào ngược Niệu quản có thể gặp gây Thận chướng nước hay teo Thận.
LAO SINH DỤC
Ống dẫn tinh có thể bị bế tắc, nếu bị hai bên sẽ dẫn đến vô sinh. Ap xe mào tinh có thể vỡ vào Tinh hoàn, dò ra da bìu hoặc cả hai, trong trường hợp đó các ống sinh tinh có thể bị bế tắc.
ĐIỀU TRỊ
Lao cần phải được điều trị như một bệnh toàn thể. Ngay cả khi chứng minh rằng chỉ có lao hệ Niệu, cũng cần phải xem như nó đang hoạt động ở một nơi khác trong cơ thể. Điều này có nghĩa là điều trị căn bản là nội khoa. loại bỏ một cơ quan nhiễm trùng bằng ngoại khoa chỉ là một biện pháp điều trị bổ túc cho điều trị nội khoa chung.
LAO THẬN:
Cần có chế độ nội khoa nghiêm ngặt. Các phối hợp sau có thể sử dụng
– Cyclosérine + PAS + INH.
– Cyclosérine + Eth + INH (Hoặc PZA)
– RM + EMB + INH Hiệu nghiệm nhất.
– Cyclosérine 250 mg 2 lần/ngày.
– PAS 15g chia đều liều. INH 300m, EMB 1,2g, RM 600mg.
– Nếu có thực hiện kháng sinh đồ, có nhạy cảm với SM có thể dùng SM 1g/ngàyX1 tháng rồi 1Gr/2ngàyX 1 tháng rồi 1g, 2lần/tuần* 1tháng.
– Vì INH có thể gây bệnh thần kinh ngoại vi, có thể cho thêm B6 100mg/ngày.
– WECHSLER và LATTIMER thích phối hợp với INH, EMB và cyclosérine.
– Phần lớn các tác giả khuyên thời gian điều trị là 2 năm (hoặc lâu hơn nếu cấy vẫn dương tính).
– Gow (1979) đề nghị phải được 6 tháng RM 600mg, INH 300mg, PZA 1g, Vit C 1Gr/ngàyX2 tháng rồi 900mg RM + 600 mg INH và 1g Vit C 3lần/tuần/4 tháng.
– Nếu sau 3 tháng, cấy vẫn dương tính và thận bị tổn thương nặng trên x quang, có thể phải xét đến cắt Thận. GOW khuyến cáo có thể cắt Thận sau 1-2 tháng điều trị nội khoa.
-Nếu vi khuẩn học và Rx cho thấy cả hai Thận bị bệnh, thì cần cố gắng điều trị nội khoa. Trừ khi có:
Nhiễm trùng nặng, đau hay chảy máu từ một Thận. Có thể cần cắt Thận như là một điều trị tạm thời hay cứu sống sinh mạng.
Bệnh tiến triển nặng một bên, bên kia chỉ bị tổn thương nhẹ (có thể xét việc cắt bỏ Thận tổn thương nặng).
LAO BỌNG ĐÁI
-Lao Bọng đái luôn luôn thứ phát sau Lao Thận hay Lao Tiền Liệt Tuyến, nó thường lành ngay khi điều trị, ổ Lao nguyên phát ở Hệ Niệu. Loét Bọng đái tồn tại hoặc không đáp ứng với điều trị nội khoa. Có thể cần tới đốt điện nội soi hay bơm vào Bọng đái dung dịch Monoxy chlorosène 0,2% (CLOPACTIN) cũng kích thích lành sẹo.
– Nếu Bọng đái bị co thắt nặng, có thể phải chuyển lưu Bọng đái hoặc tạo hình Bọng đái bằng Hồi tràng, Đại tràng å hoặc hồi manh tràng.
LAO MÀO TINH
Không bao giờ là một tổn thương đơn độc, Tiền Liệt Tuyến luôn luôn bị tổn thương và Thận cũng thường bị liên hệ. Rất hiếm khi nhiễm trùng Mào tinh vỡ vào Tinh hoàn điều trị chủ yếu nội khoa, nếu sau một tháng điều trị còn tồn tại áp xe hay đường dò mãn tính thì có chỉ định cắt bỏ Mào tinh.
LAO TIỀN LIỆT TUYẾN & TÚI TINH
Một số tác giả đề nghị cắt bỏ toàn bộ Tiền Liệt Tuyến + Mào tinh nhưng phần đông chủ trương điều trị nội khoa đồng thời theo dõi, kiểm tra bằng cấy tinh dịch trong môi trường chuyên biệt.
CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔNG QUÁT
-Dinh dưỡng tốt.
-Thuốc làm dịu bọng đái chỉ định nếu có tình trạng kích thích bọng đái.
ĐIỀU TRỊ CÁC BIẾN CHỨNG KHÁC
-Áp xe quanh Thận có thể gặp khi cả khối Thận bị phá huỷ nhưng rất hiếm. Ổ áp xe cần được dẫn lưu và cắt Thận thực hiện sau đó để ngăn ngừa sự phát triển một đường dò mãn tính và điều trị nội khoa kéo dài được chỉ định.
-Nếu có hẹp Niệu quản, nong niệu quản có tác dụng 50% các trường hợp, trong trường hợp cần thiết có thể tạo hình niệu quản bằng ruột non.
TIÊN LƯỢNG
Thay đổi tuỳ theo mức độ bành trướng của bệnh và các cơ quan bị liên hệ. Nhưng theo dõi 5 năm đạt tỉ lệ khỏi 98% các trường hợp. Theo WECHSLER và LATTIMER, nước tiểu cần được kiểm tra vi khuẩn học mỗi 6 tháng suốt trong lúc điều trị, rồi thì mỗi năm liên tục trong 10 năm. Khi tái phát cần tiếp tục điều trị. Trong tiến triển lành sẹo niệu quản có thể bị chít hẹp và bọng đái có thể bị co nhỏ lại cần phải được tạo hình.
TỪ KHÓA: lao niệu sinh dục
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Ngô Gia Hy. Niệu học tập 1. Nhà xuất bản y học. 1982.
- Vũ Lê Chuyên. Niệu khoa lâm sàng. Nhà xuất bản y học. 2002, tr130-142.
- Spimak JP, Resnick MI: Urinary stones. Smith’ Urology. 1992, pp 219. 234.










