Còn lại gì “sau SARS-CoV2 ra đi’’?

Sau khi khỏi Covid-19 có bị nhiễm lại hay không?

Nhiễm bệnh SARS-CoV-2 bao lâu thì có kháng thể?

Triệu chứng nào Covid-19 có thể kéo dài mãi mãi?

Lý do cần xét nghiệm kháng thể COVID-19 và những đối tượng cần xét nghiệm?

Người đã khỏi bệnh COVID-19 bao lâu thì có thể tiêm vaccine?

Nhiều người mắc Covid-19 sau khi khỏi bệnh đều lo lắng việc tạo kháng thể thế nào; có bị nhiễm lại không; những triệu chứng nào còn kéo dài và kéo dài bao lâu…

 

Thực hiện nghiêm quy tắc 5K và tiêm vaccine Covid-19 là cách tốt nhất để bảo vệ bạn. (Nguồn: Getty Images)

Sau khi nhiễm Covid-19 bao lâu thì có kháng thể?

Quá trình này cần có thời gian ít nhất là 1 tuần hoặc muộn hơn tùy theo từng người, tương tự như thời gian từ khi tiêm vaccine đến khi bắt đầu có kháng thể đặc hiệu. Khoảng thời gian này thường được gọi là “giai đoạn cửa sổ” kể từ khi nhiễm mầm bệnh đến khi có thể gián tiếp phát hiện nhiễm mầm bệnh thông qua xét nghiệm tìm kháng thể mà người đó tạo ra để chống lại bệnh dịch.

Hiện nay việc xét nghiệm tìm kháng thể IgM kháng Covid-19 cũng đã bắt đầu được áp dụng để phát hiện người nhiễm Covid-19. Tuy nhiên, đây chỉ là bằng chứng gián tiếp, đồng thời xét nghiệm này có nhược điểm là phải qua “giai đoạn cửa sổ” rồi mới phát hiện được.

Người đã khỏi bệnh Covid-19 có thể nhiễm bệnh lại không?

Có thể có hoặc không tùy theo từng điều kiện nhất định. Nếu cơ thể người mắc Covid-19 tạo được miễn dịch bền vững như virus sởi hoặc quai bị thì không bị lại; tuy nhiên điều này chưa thể khẳng định được, vì vẫn xuất hiện các trường hợp tái dương tính, bị lây nhiễm lại.

Nếu miễn dịch không bền vững, trong giai đoạn đầu mới khỏi bệnh, lượng kháng thể đủ mạnh thì có thể không bị lại. Nhưng sau này khi lượng kháng thể đặc hiệu mất dần đi theo thời gian thì cơ thể vẫn có thể bị nhiễm lại. Trong trường hợp này thì cần sử dụng vaccine để khôi phục khả năng đề kháng chống virus.

Các triệu chứng Covid-19 có thể kéo dài mãi mãi?

Nhiều người bệnh vẫn thấy mệt mỏi, khó thở, đau tức ngực, trí nhớ kém sau khi có kết quả âm tính Covid-19.

Bệnh nhân có kết quả âm tính với Covid-19 sau thời gian ngắn điều trị có thể mắc hội chứng “covid-19 kéo dài”. (Nguồn: NIH)

Ngay sau khi đại dịch Covid-19 bắt đầu, các bác sĩ đã đưa ra một phát hiện đáng lo ngại: Một số bệnh nhân có kết quả âm tính sau thời gian ngắn điều trị, nhưng họ không cảm thấy khỏe hơn. Hội chứng này được gọi là “Covid kéo dài”.

Các nhà khoa học và những nhóm hỗ trợ bệnh nhân đang cùng tìm nguyên nhân gây ra tình trạng này để phát triển các phương pháp chữa hiệu quả. Dưới đây là một số biểu hiện của hội chứng Covid kéo dài:

Mệt mỏi

Tình trạng này thường gặp ở bệnh nhân khi vừa hồi phục. Tuy nhiên, một số người cho biết họ trải qua sự mệt mỏi ở các mức độ khác nhau trong nhiều tháng. Bởi vậy, họ gặp khó khăn khi làm các công việc hằng ngày.

Đó là biểu hiện phổ biến nhất của hội chứng Covid kéo dài khiến người bệnh trở nên kiệt sức, suy nhược dù chỉ gắng sức một chút.

Sương mù não

Lú lẫn hoặc mất khả năng tập trung là các biểu hiện của sương mù não. Theo ước tính của Viện Y tế Quốc gia Mỹ, có tới 30% người từng bị Covid-19 có các triệu chứng thần kinh hoặc tâm thần. Các nhà nghiên cứu không chắc chắn chính xác lý do của việc này.

Hiện tại, hai giả thuyết hàng đầu được đặt ra là Covid-19 gây viêm não hoặc virus SARS-CoV-2 làm giảm oxy máu của não, gây ra tổn thương.

Khó thở

Theo Hệ thống chăm sóc sức khỏe Johns Hopkins Medicine (Mỹ), Covid-19 có thể tạo ra sẹo và các vấn đề khác ở phổi. Ngay cả những trường hợp bệnh nhẹ cũng có khả năng gây khó thở dai dẳng hay thở dốc khi gắng sức nhẹ.

Tức ngực

Đã có nhiều thông tin cho rằng Covid-19 có nguy cơ gây viêm tim. Căn bệnh này cũng liên quan đến một loại đau ngực khác có thể kéo dài.

Viêm sụn sườn là tình trạng viêm sụn kết nối xương sườn với xương ức.

Rối loạn thần kinh thực vật

Hệ thống liên lạc giữa não và dây thần kinh bị rối loạn được ghi nhận ở một số bệnh nhân Covid-19 đã có kết quả âm tính.

Triệu chứng bao gồm các vấn đề về hô hấp, giấc ngủ và tiêu hóa; đau nửa đầu, tê bì bàn chân và bàn tay, khó thở gây lo lắng và nhịp tim tăng lên.

Vấn đề tim mạch

Covid-19 khiến một số người mắc các bệnh về tim, bao gồm cả chứng viêm cơ tim. Tình trạng này có thể xảy ra ở cả những người chỉ bị Covid-19 nhẹ, không có bệnh nền.

Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng 60% những người hồi phục sau Covid-19 có các dấu hiệu của bệnh viêm tim, dẫn đến các triệu chứng phổ biến là khó thở, đánh trống ngực và tim đập nhanh.

Nhịp tim nhanh tư thế đứng

Cảm thấy chóng mặt, ngất xỉu hoặc tim đập nhanh khi chuyển tư thế từ ngồi sang đứng được gọi là hội chứng nhịp tim nhanh tư thế đứng (POTS).

Các bác sĩ chưa rõ tại sao người đã khỏi Covid-19 lại bị hội chứng trên nhưng hiện tượng này không mới.

Bệnh nhân có thể có hội chứng nhịp tim nhanh tư thế đứng sau khi bị bệnh do virus, nhiễm trùng nghiêm trọng, mang thai và chấn thương như chấn thương đầu.


Lý do cần xét nghiệm kháng thể COVID-19 và những đối tượng cần xét nghiệm?

Xét nghiệm kháng thể COVID-19 giúp chúng ta biết được cơ thể được bảo vệ như thế nào trước virus SARS-CoV-2. Ảnh: BVCC

Cho đến nay, nhiều địa phương trên cả nước đã thực hiện tiêm vaccine COVID-19 mũi 2. Rất nhiều người muốn biết trong cơ thể mình đã có kháng thể chống lại virus SARS-CoV2 hay chưa. Để biết được điều đó thì phải làm xét nghiệm kháng thể.

Cần hiểu rõ xét nghiệm kháng thể khác hoàn toàn với xét nghiệm nhằm phát hiện virus. Đây là xét nghiệm huyết thanh nhằm xác định một người đã có kháng thể chống lại virus hay không. Trong khi đó, kháng thể này được sản sinh sau một thời gian người bệnh mắc COVID-19 hoặc đã được tiêm đủ vaccine phòng virus SARS-CoV-2.

Xét nghiệm kháng thể COVID-19 để làm gì?

Xét nghiệm kháng thể thực chất được dùng để chẩn đoán một người có bị nhiễm virus hay không. Bởi với một người đã từng mắc COVID-19 hoặc đang trong giai đoạn ủ bệnh thì sau 2 tuần phơi nhiễm, cơ thể sẽ sản sinh ra kháng thể. Kháng thể này có trong máu của bệnh nhân, có tác dụng chống lại sự phát triển và tấn công của virus.

Bản chất của xét nghiệm kháng thể là xác định sự tồn tại của virus thông qua vật liệu gián tiếp là kháng thể được sản sinh này. Do vậy, thông qua xét nghiệm kháng thể, ngành y tế cũng có thể sàng lọc những người có nguy cơ đang nhiễm bệnh và cách ly để ngăn chặn sự phát tán của virus.

Tuy nhiên, đây là xét nghiệm gián tiếp nên không được áp dụng để khẳng định bệnh, muốn biết một người có nhiễm SAR-CoV-2 hay không thì cần phải làm xét nghiệm Realtime PCR.

Những ai cần xét nghiệm kháng thể COVID-19?

-Người đã từng mắc COVID-19 đã được điều trị khỏi xét nghiệm để biết trong cơ thể có kháng thể chống virus hay chưa.

-Người đang trong giai đoạn điều trị COVID-19 xét nghiệm kháng thể chẩn đoán khả năng điều trị bệnh.

-Người có nguy cơ nhiễm COVID-19: tiếp xúc với F0, trở về từ vùng dịch, ở trong khu cách ly,…

-Người đã tiêm đủ 2 mũi vaccine phòng COVID-19 sau 2 tuần đến 3 tuần.

-Người cần xét nghiệm kháng thể theo chỉ định của bác sĩ nhằm phục vụ công tác sàng lọc bệnh nhân COVID-19 hoặc phục vụ công tác nghiên cứu.

Xét nghiệm kháng thể COVID-19 ở đâu?

Mặc dù kết quả xét nghiệm kháng thể không được dùng để khẳng định khả năng mắc COVID-19 của một người có nguy cơ. Tuy nhiên, xét nghiệm kháng thể có vai trò rất lớn trong việc giúp ngành y có thể sàng lọc nguy cơ nhiễm bệnh ở vùng dịch đông người. Xét nghiệm kháng thể cũng được coi là một cách để những người đã tiêm vaccine COVID-19 có thể đánh giá được khả năng phòng bệnh của bản thân.

Hiện nay, Việt Nam chưa áp dụng giải pháp xét nghiệm này trên diện rộng. Nếu chưa chắc chắn việc xét nghiệm kháng thể COVID-19 ở đâu đảm bảo uy tín, các bạn nên tìm hiểu về những xét nghiệm liên quan đến COVID-19 đang được Bộ Y tế chấp thuận sử dụng.

Người đã khỏi bệnh COVID-19 bao lâu thì có thể tiêm vaccine?

Cán bộ y tế tiêm vaccine COVID-19 cho người dân ở Hà Nội. Ảnh: Hải Nguyễn

Hiện nay có ý kiến khác nhau về việc có nên tiêm vaccine COVID-19 cho người đã từng mắc COVID-19 và khỏi bệnh hay không và khỏi bệnh sau bao lâu thì có thể tiêm vaccine?

Theo Viện nghiên cứu City of Hope, California, Mỹ, một công trình khoa học gần đây của nhóm nghiên cứu ở New York giúp làm sáng tỏ một phần tại sao khi bị nhiễm virus SARS-CoV2 một cách tự nhiên, người hồi phục có hệ miễn dịch mạnh hơn so với người được tiêm vaccine. Trong nghiên cứu này, họ thấy rằng tế bào nhớ B (memory B cells) trong cơ thể người đã bị nhiễm virus có thể tiếp tục tiến hóa (evolve) trong tối thiểu 1 năm để tạo ra các kháng thể giúp chống lại sự xâm nhiễm của virus, thậm chí là các biến chủng mới nguy hiểm.

Trong khi đó, sự tiến hóa của các tế bào B này ở người tiêm vaccine mRNA (như của Moderna hoặc Pfizer- BioNTech) chỉ dừng lại khoảng trong 5 tháng sau khi chích ngừa. Trong một nghiên cứu khác của nhóm ở Hà Lan, các nhà khoa học thấy rằng cũng có sự khác biệt rõ rệt trong nhóm người bị bệnh nặng và nhóm người bị nhẹ hoặc không triệu chứng. Huyết tương lấy từ nhóm người bị bệnh nhẹ hoặc không triệu chứng thường có ít kháng thể hơn và khả năng trung hòa virus yếu hơn, đặc biệt là đối với các chủng mới.

Nói chung, người đã nhiễm virus SARS-CoV-2 một cách tự nhiên, ngoài loại kháng thể được tạo ra để nhận biết protein S thì còn nhiều loại kháng thể khác nhận biết các loại protein khác nhau trong và ngoài con virus, tương tác với nhiều con đường tín hiệu trong tế bào, kích thích hệ miễn dịch toàn vẹn hơn.

Virus tồn tại trong cơ thể người bị nhiễm dài hơn (thường là 1-2 tuần) so với thời gian tồn tại các kháng nguyên được tạo ra bởi vaccine (thường chỉ vài ngày). Do vậy, các tế bào miễn dịch của cơ thể “học” được nhiều hơn và hiệu quả hơn, cũng giống như bạn được dạy bởi một “chương trình nâng cao” với thời lượng học dài hơn và nhiều học cụ sinh động, phong phú hơn sẽ nhớ bài

 

 

 

 

 

Th10 07, 2021

Tiểu ra máu

Phát hiện của tiểu máu là một trong những dấu hiệu phổ biến nhất và quan trọng nhất của bệnh…