Điều trị ung thư bàng quang
- Phẫu thuật cắt đốt nội soi bướu qua niệu đạo và hóa trị trong bàng quang (đối với ung thư bề mặt)
- Cắt bỏ bàng quang (đối với ung thư xâm lấn)
Ung thư bề mặt
Ung thư bề mặt có thể được loại bỏ hoàn toàn bằng cách phẫu thuật qua niệu đạo hoặc đốt điện qua niệu đạo. Bơm hóa chất trị liệu vào bàng quang lặp đi lặp lại như mitomycin C, có thể làm giảm nguy cơ tái phát. Đối với ung thư biểu mô tế tại chỗ và các loại biệt hóa cao khác, các tế bào ung thư bề mặt, ung thư tế bào chuyển tiếp, liệu pháp miễn dịch, chẳng hạn như tiêm BCG sau khi cắt bỏ qua niệu đạo, thường có hiệu quả hơn so với bơm thuốc hóa trị liệu. Bơm thuốc có thể được thực hiện theo từng đợt khoảng hàng tuần đến hàng tháng trong vòng từ 1 đến 3 năm.
Ung thư xâm lấn
Các khối u thâm nhiễm vào cơ (ví dụ: ≥ giai đoạn T2) thường đòi hỏi phải phẫu thuật tiệt căn (cắt bỏ bàng quang và các cấu trúc lân cận) đồng thời chuyển dòng nước tiểu; phẫu thuật cắt bàng quang một phần khả thi cho < 5% bệnh nhân. Phẫu thuật cắt bỏ bàng quang đang được thực hiện với tần số ngày càng tăng sau hóa trị tân bổ trợ ở bệnh nhân bị bệnh tiến triển tại chỗ. Vét hạch bạch huyết mở rộng vào thời điểm phẫu thuật có thể làm tăng tỷ lệ sống sót. Dẫn lưu nước tiểu truyền thống là phương pháp dẫn lưu nước tiểu qua ống dẫn hồi tràng ra một lỗ ở thành bụng và gom lại trong một túi chứa bên ngoài. Các lựa chọn thay thế như tạo hình bàng quang hoặc hoặc chuyển dòng nước tiểu qua da, đang trở nên phổ biến và phù hợp với nhiều bệnh nhân. Đối với cả hai phương pháp, một túi chứa được tạo hình từ ruột. Đối với phương pháp tạo hình bàng quang, túi chứa được nối với niệu đạo. Bệnh nhân làm rỗng túi chứa bằng cách thả lỏng cơ sàn chậu và tăng áp lực bụng, để nước tiểu đi ngang qua niệu đạo một cách gần như tự nhiên. Hầu hết các bệnh nhân duy trì kiểm soát tiết niệu trong ngày, nhưng một số thì tiểu không kiểm soát ban đêm. Đối với phương pháp chuyển dòng nước tiểu qua da (continent cutaneous urinary diversion), túi chứa được nối với một lỗ ở thành bụng. Bệnh nhân làm sạch túi chứa qua ống thông một cách đều đặn trong ngày.
Các phác đồ bảo tồn bàng quang kết hợp hóa trị và xạ trị có thể phù hợp với một số bệnh nhân lớn tuổi hoặc những người từ chối phẫu thuật xâm lấn. Các phương pháp này có thể đưa đến tỷ lệ sống sót 5 năm là 36-74% với 10-30% bệnh nhân cần cắt bàng quang cứu vãn.
Bệnh nhân nên được theo dõi 3 đến 6 tháng 1 lần để phát hiện tiến triển hoặc tái phát.
Ung thư di căn và tái phát
Di căn cần hóa trị, nền tảng là cisplatin, thường hiệu quả nhưng ít khi được chữa khỏi trừ khi di căn giới hạn ở các hạch bạch huyết. Phối hợp hóa trị liệu có thể kéo dài cuộc sống ở những bệnh nhân có di căn. Đối với những bệnh nhân mà cisplatin không phù hợp hoặc đã tiến triển sau khi dùng các phác đồ có cisplatin, có thể sử dụng các liệu pháp miễn dịch mới hơn nhờ sử dụng các chất ức chế PD-1 và PD-L1.
Điều trị ung thư tái phát phụ thuộc vào giai đoạn lâm sàng và vị trí tái phát và điều trị trước đó. Tái phát sau phẫu thuật cắt qua niệu đạo các khối u bề mặt thường được điều trị bằng cắt bỏ lần 2 hoặc dùng cắt đốt điện. Ung thư bàng quang tại chỗ tái phát thường xuyên cần xem xét chỉ định cắt bàng quang sớm.
Những điểm chính
- Nguy cơ ung thư bàng quang tăng lên do hút thuốc lá, sử dụng phenacetin hoặc cyclophosphamide, kích thích mạn tính hoặc phơi nhiễm với hóa chất nhất định.
- Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp chiếm > 90% ung thư bàng quang.
- Nghi ngờ ung thư bàng quang ở bệnh nhân tiểu máu không giải thích được hoặc các triệu chứng tiết niệu khác (đặc biệt là nam giới trung niên hoặc cao tuổi).
- Chẩn đoán ung thư bàng quang bằng sinh thiết qua nội soi bàng quang, và nếu có sự xâm lấn cơ, cần làm các chấn đoán hình ảnh để phân giai đoạn.
- Loại bỏ ung thư bề mặt bằng phẫu thuật qua niệu đạo hoặc đốt điện, sau đó ngâm bàng quang nhắc lại bằng hóa chất (hoá trị tại chỗ).
- Nếu ung thư xâm lấn vào cơ, điều trị bằng phẫu thuật cắt bàng quang toàn bộ với sự chuyển dòng nước tiểu.



