CHẤN THƯƠNG NIỆU QUẢN

NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH 

Đa số do vết thương hở: dao đâm, đạn bắn, phẫu thuật (cắt tử cung qua ngã bụng, qua ngã âm đạo, các cuộc mổ u sau phúc mạc, u tiểu khung, nội soi niệu…

Hình 1: Nội soi tán sỏi- lôi sỏi niệu quản có thể làm thủng- đứt niệu quản.

LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG

LÂM SÀNG

-Đau bụng sốt suốt nhiều ngày sau phẫu thuật vùng bụng chậu phải nghi ngờ có tổn thương niệu quản 

-Dò niệu quản– âm đạo có thể xảy ra sau khi cột nhầm niệu quản trong lúc cắt tử cung. Ra nước tiểu âm đạo, vết mổ, dẫn lưu…

CẬN LÂM SÀNG

-UIV, CT-Scan cho thấy hình thận bài tiết chậm, thận trướng nước, có thể thấy thuốc cản quang tràn ra ngoài.

-Nếu UIV không phát hiện được tổn thương niệu quản, cần phải chụp UPR trước mổ để tránh nhiễm trùng.

 

Hình 4: CT tổn thương bể thận P

(Trích nguồn từ Smith’General Urology 17th edition)

ĐIỀU TRỊ  

Phát hiện ngay

-Tổn thương niệu quản phát hiện trong vài ngày phải được thám sát.

-Thường cắt lọc nối tận tận niệu quản, tổn thương niệu quản 1/3 dưới được cắm vào bàng quang, hoặc được tạo hình bằng một mảnh bàng quang hay đính bàng quang vào cơ thăn. 

Phát hiện trễ Tthường có nhiễm trùng, do đó không thể tạo hình ngay  , phải mở thận ra da, dẫn lưu nước tiểu quanh thận. Mổ tạo hình được thực hiện sau khi tình trạng nhiễm trùng khỏi.

BIẾN CHỨNG hẹp niệu quản, xơ hoá sau phúc mạc, viêm thận- bể thận, dò niệu quản.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu trong nước

1.Trần Ngọc Sinh (2005). Sổ tay tiệt niệu học lâm sàng. Nhà xuất bản y học. 

2.Nguyễn Bửu Triều, Trần Quán Anh (2002).  Bệnh học giới tính nam. Nhà xuất bản y học.

3.Vũ Lê Chuyên.  Niệu khoa lâm sàng. Nhà xuất bản y học. 2002, tr282-291.

Tài liệu nước ngoài

1.Spimak JP, Resnick MI: Urinary stones. Smith’ Urology. 1992, pp 278. 296.