Phát hiện của tiểu máu là một trong những dấu hiệu phổ biến nhất và quan trọng nhất của bệnh tiết niệu. Những nguyên nhân của tiểu máu từ lành tính (tập thể dục) đến (ung thư bàng quang) ác tính (Bảng 1). vì mức độ tiểu máu không liên quan đến nguyên nhân cụ thể, tiểu máu phải luôn luôn được xem là một triệu chứng của căn bệnh nghiêm trọng cho đến khi tìm được nguyên nhân khác. Tiểu máu thường được phân loại là đại thể (có thể nhìn thấy bằng mắt thường) hoặc vi thể trên kính hiển vi (nhiều hơn 3 HC trên vi trường). Tiểu máu có thể đầu, cuối, hoặc toàn bãi. tiểu máu đầu bãi chỉ ra nguyên nhân ở các cơ vòng bên ngoài, tiểu máu cuối bãi thường nguyên nhân trong niệu đạo hoặc cổ bàng quang, và tiểu máu toàn bãi có trong bàng quang hoặc đường niệu trên. Nguồn gốc của tiểu máu không xác định được chính xác từ bệnh sử. tiểu máu giả là sự đổi màu của nước tiểu từ các chất màu như màu thực phẩm và myoglobin.
Một số nguyên nhân quan trọng của tiểu máu

Bệnh lý cầu thận

-Viêm cầu thận cấp tính

-Lupus viêm thận

-Tiểu máu lành tính gia đình

-Bệnh Berger’s

-Hội chứng Goodpasture

-Tập thể dục

Thận

-Bệnh thận đa nang

-Hoại tử nhú

-Nhồi máu thận

-Lymphoma
-Amyloidosis
-Viêm và nhiễm trùng

-Dị dạng mạch máu

Cơ quan tiết niệu- sinh dục

-Bướu
-Sỏi
-Phì đại lành tính tuyến tiền liệt

-Niệu đạo hẹp

-Endometriosis
-Viêm túi thừa

-Phình động mạch chủ bụng

-Nhiễm trùng

Huyết học

-Rối loạn đông máu

-Trị liệu chống đông

-Bệnh thiếu máu tế HC bào hình liềm

Tiểu máu giả

-Thực phẩm màu

-Thuốc chuyển hóa

Một số nguyên nhân của tiểu máu được tóm tắt trong Bảng 1. Do số lượng lớn các bệnh có thể gây ra tiểu máu, nên hữu ích để phân loại chúng như cầu thận, tiết niệu, suy thận, và huyết học. Khoảng 10% đến 20% bệnh nhân tiểu máu vi thể sẽ không có nguồn chảy máu xác định (vô căn tiểu máu) khoảng 1/3có nguồn gốc thận và 2/3 tổn thương đường tiết niệu. bàng quang 40% bệnh nhân tiểu máu

Độ tuổi, giới tính, và chủng tộc của bệnh nhân là chỉ tiêu quan trọng. Ở trẻ em, ta nên xem xét viêm cầu thận cấp tính, nhiễm trùng tiết niệu, và khối u Wilms thận. Ở nam giới trên 60 tuổi, ung thư bàng quang và tăng sản tuyến tiền liệt lành tính (BPH) là những nguyên nhân phổ biến nhất của tiểu máu. Ở bệnh nhân nữ trẻ, viêm bàng quang là nguyên nhân phổ biến nhất.
Bệnh sử:  Cần khai thác bệnh sử:

– Nghề nghiệp (nghề có nguy cơ bị bướu bọng đái cao: công nhân nhuộm…thói quen: hút thuốc nhiều…)

– Chấn thương, dùng thuốc.

– Sự liên hệ giữa tiểu ra máu đối với dòng nước tiểu.

– Có các triệu chứng tại chỗ, Niệu khoa hoặc toàn thân đi kèm: tiểu buốt, gắt, cơn đau bão Thận, sốt, lạnh run….

– Có các vấn đề nội khoa như viêm họng trước khi tiểu ra máu.

Dấu hiệu

Toàn trạng bệnh nhân như thế nào.

– Có sốt, cao huyết áp hay phù thủng.

– Có cảm nhận khối u bất thường vùng hông lưng.

– Có sờ thấy khối cầu bọng đái.

– Có những dấu hiệu của di căn vùng chậu.

Cận lâm sàng

Nước tiểu

– Màu đỏ nước tiểu có thể được gây ra bởi erythrocyturia, hemoglobinuria, myoglobinuria, hoặc pigmenturia. Kết quả thử nghiệm với que thử dương tính với các tế bào hồng cầu, huyết sắc tố, hoặc myoglobin, và do đó nó không phải là cụ thể cho hồng cầu . Chỉ nên kiểm tra bằng kính hiển vi cho thấy sự hiện diện của các tế bào HC trong nước tiểu

– Nếu có nhiều Protéines, đặc biệt có sự hiện diện của các trụ niệu giúp nghĩ đến viêm vi cầu Thận.

– Quay ly tâm và nhuộm đặc biệt bằng kỹ thuật Papanicolaou giúp phát hiện tế bào ác tính.

– Giúp phân biệt giữa tiểu ra máu thật sự với tiểu Hb hay Myoglobine.

Siêu âm

Nếu có một tổn thương chiếm một vị trí trong Thận cần làm thêm siêu âm để xác định:

-Khi siêu âm cho hình ảnh Echo kém, có thể chọc dò dưới hướng dẫn siêu âm và xét nghiệm dịch hút tìm tế bào ác tính, có thể bơm thuốc cản quang để chụp hình nang nếu trên siêu âm thấy hình nang trơn láng.

– Khi siêu âm cho hình ảnh Echo sáng hay hỗn hợp thì tổn thương phải được xem là ác tính cho đến khi chứng minh được nguyên nhân khác, và thông thường ít khi cần phải tiến hành thêm các thăm dò chức năng khác mà có thể tiến hành phẫu thuật cắt bỏ thận. Nếu chẩn đoán nghi ngờ cần thực hiện chụp động mạch Thận, trong trường hợp ác tính sẽ cho hình ảnh tăng sinh mạch máu, đôi khi và nếu được có thể chích một chất làm tắc động mạch Thận sẽ giúp phẫu thuật dễ hơn.

Chụp hình hệ niệu có cản quang đường tĩnh mạch (UIV)  

UIV cũng có thể cho thấy hình ảnh sỏi, lao, túi mủ khu trú hay Bướu đường tiểu là các nguyên nhân khác gây tiểu ra máu.

Soi bọng đái

Giúp phát hiện bướu bọng đái và nếu có cần sinh thiết để đánh giá chính xác độ biệt hoá và độ xâm lấn mà có hướng điều trị thích hợp.

Chụp niệu quản- bể thận ngược (UPR)

Đôi khi cũng giúp thấy rõ hơn hình ảnh khuyết trong vùng bể thận, niệu quản.

CT scan và MSCT-Scan

Ngày nay đa số các trường hợp CT scan và MSCT phát hiện ra nguyên nhân tiểu máu, vai trò MSCT thay kỹ thuật chụp UIV và UPR để chẩn đoán bệnh.

Tiểu ra máu vô căn

Một số ít trường hợp, bệnh nhân có biểu hiện tiểu máu liên tục nhưng mọi phương pháp cận lâm sàng đều không chứng minh được nguồn gốc của tiểu ra máu (Không có bướu, không sạn, không nhiễm trùng…). Những bệnh nhân này cần được theo dõi, khảo sát nước tiểu nhiều lần và đôi khi cần làm lại UIV để chắc chắn rằng không có bệnh lý ác tính đã bị bỏ sót. Trong một số trường hợp có thể tìm thấy những bất thường có ý nghĩa như lạm dụng thuốc giảm đau hoặc có sạn không cản quang.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu trong nước

1.Trần Ngọc Sinh (2005). Sổ tay tiệt niệu học lâm sàng. Nhà xuất bản y học.

2.Nguyễn Bửu Triều, Trần Quán Anh (2002).  Bệnh học giới tính nam. Nhà xuất bản y học.

3.Vũ Lê Chuyên.  Niệu khoa lâm sàng. Nhà xuất bản y học. 2002, tr51-63.

Tài liệu nước ngoài

1.Spimak JP, Resnick MI: Urinary stones. Smith’ Urology. 1992, pp 278. 296.